\
Lịch Sử

Nguồn gốc họ Nguyễn ở Việt Nam
   Họ Nguyễn ở Việt nam có nguồn gốc từ đất Trần Lưu Quận - Trung Hoa (trong 126 họ ở Trung Quốc có liệt kê họ Nguyễn). Tuy nhiên, bao giờ và khi nào họ Nguyễn có tên ở Việt Nam, đó là một nghi vấn lịch sử, mà theo các khảo cứu, có thể có những khả năng như dưới đây :
- Về họ Nguyễn:

TRIỆU ĐÀ (258-137 Tr.CN)
     Có tên thực là Nguyễn Cẩn. Ông có dòng dõi là vua Hùng của Lạc Việt – con của Hùng Dực Công, Cháu của Hùng My Vương (Hùng vương thứ 18). Mẹ mất sớm, dì ghẻ lại gian ác, ông phải sống với ông bà ngoại bị mù loà và được Chử Đồng Tử truyền cho nghề đánh cá để nuôi ông bà ngoại. Một người Bắc tên là Nhâm Hiệu – làm bộ tướng trong nhà Hùng Dực Công - thấy Nguyễn Cẩn tướng mạo khôi ngô, biết có thể lập được nghiệp lớn, bèn cho vàng bạc để gửi Chử Đồng Tử nuôi ông bà ngoại và khuyên Nguyễn Cẩn sang Bắc quốc lập nghiệp, sau này trở về đánh lại Thục Phán An Dương Vương, cứu lại giang sơn Lạc Việt của các Vua Hùng.
Năm Đinh Hợi (214 tr.CN), Tần Thuỷ Hoàng sai tướng là Đồ Thư đánh Bách Việt và Âu Lạc. An Dương Vương xin thần phục nhà Tần để bảo tồn. Tần Thuỷ Hoàng chia Bách Việt và Âu Lạc thành ba quận là Nam Hải (Quảng đông), Quế Lâm (Quảng tây) và Tượng Quận (Bắc Việt). Nguyễn Cẩn được Triệu Cao – Thái giám của Tần Thuỷ Hoàng - nhận làm con nuôi nên đổi tên thành Triệu Đà, và được Tần Thuỷ Hoàng phong làm Đô Úy nên còn được gọi là Úy Đà….
Triệu Đà nhân lúc Hán - Sở tranh hùng mà cùng Nhâm Hiệu chiếm quận Nam Hải. Nhâm Hiệu mất, trao lại quyền bính cho Triệu Đà và ông phát triển thêm binh lực, đem quân về đánh Thục phán để khôi phục cơ nghiệp của tổ tiên…
Triệu Đà nhiều lần tấn công Thục Phán nhưng không thành nên ông sử dụng “nam nhân kế”, cho con trai cả là Nguyễn Công Trọng (mà truyền thuyết gọi là Trọng Thuỷ) sang Âu Lạc lấy Mỵ Châu và ở rể nhằm mục đích tìm hiểu bí mật của Loa thành và nỏ Liên châu của Cao Nỗ…
Sau khi đánh bại vua Thục vào năm Quí Tỵ (208 Tr.CN) tự xưng là Nam Việt Hoàng Đế - tức là Triệu Vũ Đế - đóng đô ở Phiên Ngung (nay thuộc Quảng Châu) rồi ông mở rộng lãnh thổ Nam Việt sang cả Âu Lạc và sống thọ đến 121 tuổi, làm vua 71 năm. Triều đại do ông lập ra có 5 đời vua tổng cộng là 97 năm, cụ thể là sau ông còn có các đời vua như sau:
Cháu nội đích tôn của ông là Nguyễn Hồ (con của Trọng Thuỷ) nối ngôi được 13 năm, hiệu là Văn vương (do về sau ông thần phục nhà Hán, nên cải hiệu không xưng đế nữa). Tiếp theo đó là Nguyễn Anh Tề (Minh vương) 13 năm, Nguyễn Hưng (Ai vương) 1 năm, Nguyễn Kiến Đức (Dương vương) được độ 1 năm thì Vũ đế nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức sang đánh chiếm lấy Nam Việt và chia thành quận huyện. Năm Canh Ngọ (111 tr.CN) nước ta mới thực sự bị nhà Hán chiếm đóng…
Như vậy, nhà Triệu thực chất là họ Nguyễn của Lạc Việt, con cháu của các vua Hùng. Đại Việt Sử ký của Hàn lâm học sỹ Lê văn Hưu (thời Trần) và Lễ bộ tả Thị lang Ngô sỹ Liên (thời Lê - soạn lại) vẫn ghi nhà Triệu là một triều đại của dân Việt. Đại văn hào Nguyễn Trãi trong bình Ngô đại cáo vẫn coi nhà Triệu là một triều đại của ta, vì là do người Việt làm làm chủ ở đất Nam Việt và Âu Lạc:
“ … tự Triệu, Đinh, Lư, Trần chi triệu tạo ngã quốc;
dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương….”

Sau thời Ngô vương Quyền (939-944)
    Là thời của 12 Sứ quân cát cứ, trấn giữ các vùng (945-968)... Trong 12 vị đó có đến 3 ông họ Nguyễn, đó là:
1. Nguyễn Khoan (Nguyễn Thái công), trấn giữ vùng Tam đới-Vĩnh Tường.
2. Nguyễn Thủ Tiệp (Nguyễn Lịnh công), trấn giữ vùng Tiên du-Bắc Ninh.
3. Nguyễn Siêu (Nguyễn Hữu công), trấn giữ vùng Tây Phù Liệt - Thanh Trì (Hà Đông).
Cả 3 ông này đều nghe theo lời Định Quốc công Nguyễn Bặc (chức Thái tể dưới triều Đinh Tiên hoàng) mà giúp cho Vạn Thắng vương Đinh Bộ Lĩnh thống nhất giang sơn, lập thành nghiệp đế nhà Đinh vào năm Mậu Thìn (968) với Quốc hiệu là Đại Cồ Việt....

    Đời Trần Thái-Tông, năm Nhâm Thìn (1232),
    Sau khi đã đoạt ngôi nhà Lư, Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ lấy lý do tổ nhà Trần tên là Lư, đã bắt tất cả những người họ Lư (là họ dòng vua vừa bị thoán vị) sống trong lãnh thổ Đại Việt, phải đổi làm họ Nguyễn ....
    Họ Nguyễn đến Giao Châu từ khi nào...???
   Tấn Vũ đế Tư Mã Viêm, sau khi lật đổ nhà Nguỵ của họ Tào, thu phục Tây Thục với Đông Ngô và làm Hoàng Đế Trung Hoa. Vị Hoàng đế này rất mến danh sĩ Nguyễn Tịch (là một trong 7 hiền sĩ phái Trúc Lâm) và muốn kết thông gia với ông ta. Ngài Nguyễn Tịch không chịu và hậu quả là con cháu của ngài phải đi đến vùng Lĩnh Nam xa xôi.... Một trong những người đó có ngài Nguyễn Phu phải sang Giao Châu làm Thứ sử và ông ta đã sống và lập nghiệp tại mảnh đất này. Con cháu của ông có trước tác cuốn " Giao châu địa dư chí " nhưng không rõ thất lạc khi nào và ở đâu ... NHƯNG cho đến hiện nay, khi giở cuốn danh bạ điện thoại nào thì họ Nguyễn đều chiếm 50% ….
    Như vậy, Xét về khả năng tiềm tàng thì bộ gia phả này sẽ cực kỳ lớn nếu như...có đầy đủ thông tin.
   Gia phả là gia bảo. Đúng, nhưng là gia bảo của chung cả dòng họ...

 

    Nguyễn Bặc (chữ Hán: 阮匐; 924 - 15 tháng 10979 âm lịch) là khai quốc công thần nhà Đinh, có công giúp Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn 12 sứ quân vào thế kỷ 10 trong lịch sử Việt Nam. Do lập công lớn, ông được vua Đinh phong là Định Quốc công, vị trí như Tể tướng trong triều đình nhà Đinh.[1] Theo các gia phổ họ Nguyễn và tài liệu "Lược sử họ Nguyễn tại Việt Nam", ông được tôn là bậc tiền thủy tổ họ Nguyễn ở Việt Nam chính thống.[2] Ông được Việt Sử tân biên liệt vào danh sách "Giao Châu thất hùng", tức 7 anh hùng người Giao Châu gồm: Đinh Bộ LĩnhĐinh LiễnLê HoànĐinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp và Phạm Cự Lượng.[3]

Thời trẻ:

    Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Nguyễn Bặc là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng, Đại Cồ Việt(nay vẫn là động Hoa Lư thuộc xã Gia Hưng - huyện Gia Viễn - tỉnh Ninh Bình. Thuở nhỏ, ông đã cùng kết bạn với Đinh Bộ LĩnhĐinh ĐiềnTrịnh Tú và Lưu Cơ.

Công thần nhà Đinh

   Thần phả còn ghi ông có 2 người anh là Nguyễn Bồ là anh cả có chính thất Phu nhân và có con cái nhưng không thấy tài liệu nào ghi chép, chỉ ghi chính thất thứ nhất là Công chúa Quế Hương em gái của Đinh Bộ Lĩnh và Nguyễn Phục, đều là tướng đi theo Đinh Bộ Lĩnh hùng cứ ở Hoa Lư thời nhà Ngô. Cả Đinh ĐiềnTrịnh Tú vàLưu Cơ cũng tham gia vào lực lượng này.

    Khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận (965), các sứ quân nổi dậy. Anh em Nguyễn Bặc theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp. Theo thần phả, khi đánh dẹp một sứ quân mạnh là Nguyễn SiêuNguyễn Bồ và Nguyễn Phục cùng 2 tướng khác bị tử trận. Vạn Thắng Vương liền truyền Nguyễn Bặc, Đinh Điền và Lê Hoàn đem quân đánh báo thù, kết quả diệt được Nguyễn Siêu (967).

    Ngoài trận đánh Nguyễn Siêu, Nguyễn Bặc đóng góp nhiều công lao trong việc đánh dẹp các sứ quân, giúp thống nhất toàn quốc dưới tay vua Đinh.

    Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tức là Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Bặc được phong làm Định quốc công, Đinh Điền được phong làm ngoại giáp. Chính sử không nói rõ nhưng các gia phả họ Nguyễn có giải thích thêm rằng: Nguyễn Bặc làm Định Quốc Công, coi việc Nội Giáp, tức là việc nội chính, còn Đinh Điền làm Ngoại Giáp coi việc bên ngoài.

-       Tận trung với nhà Định

-       Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại. Quan Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích bị nghi là thủ phạm hàng đầu, sợ hãi bỏ trốn.

-       Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, ba ngày sau, Thích khát nước khát thò tay ra hứng nước mưa uống, bị cung nữ phát hiện đi báo. Nguyễn Bặc lập tức bắt giết ngay Đỗ Thích. Ông cùng các đại thần tôn phò con nhỏ của Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn lên ngôi, tức là Đinh Phế Đế. Mẹ Phế Đế là Dương Vân Nga trở thành thái hậu.

-       Tuy nhiên rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu sử gia hiện nay lại cho rằng Đỗ Thích là người bị oan cho là trực tiếp giết hại cha con Nam Việt Vương và chủ mưu chính là Lê Hoàn và Dương hậu, mà Đỗ Thích chỉ là quan chi hậu nên bị ép buộc nhưng chưa thực hiện được ý đồ nên là đồng phạm.

-       Theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nguyễn Bặc, Đinh Điền làm phụ chính cho Phế Đế, nhưng lúc đó Dương thái hậu tư thông với Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, cho Lê Hoàn làm Phó vương, nắm quyền chỉ huy quân đội, chuyên quyền, tự do ra vào cung cấm. Nguyễn Bặc lo lắng bàn với các tướng:

-       "Lê Hoàn sẽ bất lợi cho "nhụ tử"[4], chúng ta chịu ơn dày của nước, nếu không tính tước đi, giữ cho xã tắc được yên thì còn mặt mũi nào trông thấy Tiên đế ở suối vàng nữa?".

-       Ông bèn cùng Đinh Điền, Phạm Hạp khởi binh, chia hai đường thủy bộ cùng tiến đánh Lê Hoàn. Nguyễn Bặc và Đinh Điền kéo quân từ châu Ái (nay thuộc Thanh Hoá), định kéo thẳng đến kinh đô để giết Lê Hoàn. Dương thái hậu nghe tin, bảo Lê Hoàn:

-       "Bọn Bặc nổi loạn, quan gia[5] hãy còn thơ ấu, cáng đáng sao nổi giữa lúc quốc gia lắm nạn này! Ông nên tính đi".

-       Lê Hoàn nói:

-       "Tôi đây làm phó vương, quyền giữ việc nước, dù sống chết cũng xin gánh lấy trách nhiệm".

-       Lê Hoàn liền sắp xếp quân đội, đánh nhau với Nguyễn Bặc, Đinh Điền ở Ái Châu. Lê Hoàn vốn là người giỏi dùng binh, Nguyễn Bặc và Đinh Điền không chống nổi, lại đem quân thủy ra đánh. Lê Hoàn theo chiều gió, phóng lửa đốt cả thuyền chiến. Đinh Điền bị chết tại trận, còn Nguyễn Bặc bị bắt, đưa về kinh đô. Trước mặt Nguyễn Bặc, Lê Hoàn kể tội ông:

-       "Đấng Tiên đế mắc nạn, thần và người đều căm giận, ngươi lại nhân lúc tang tóc rối ren, đứng đầu làm giặc! Đạo tôi con đâu có như thế?".

-       Rồi Lê Hoàn giết hại ông. Năm đó ông 56 tuổi, cùng sinh một năm và chết 1 năm với Đinh Tiên Hoàng.

-       Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã chết rồi, quân của Phạm Hạp mất tinh thần, chạy lên hương Cát Lợi ở Bắc Giang. Lê Hoàn đem quân đuổi theo, bắt đưa về kinh đô, giết chết.

-       Các đạo quân chống đối bị tiêu diệt, Lê Hoàn được sự hỗ trợ của Dương thái hậu và tướng quân Phạm Cự Lạng, liền phế Đinh Toàn làm Vệ vương như cũ, giành lấy ngai vàng, tức là vua Lê Đại Hành, lập ra nhà Tiền Lê.

-       Ngày nay ở Ninh Bình còn rất nhiều đền thờ ông và Đinh Điền. Theo các nhà nghiên cứu sử học, số đền thờ các trung thần nhà Đinh nhiều hơn số đền thờ Lê Hoàn và Dương hậu phản ánh tình cảm của dân chúng đối với các ông.

Khởi tổ dòng họ Nguyễn

     Nhiều ý kiến từ các chi - phái thuộc hậu duệ của Nguyễn Bặc cho rằng ông chính là Đức Thái thuỷ tổ của dòng họ Nguyễn Đại Tông của họ, theo đó Nguyễn Bặc là con trai Nguyễn Thước, một gia tướng của Dương Đình Nghệ. Cũng theo luồng ý kiến này, dòng họ có con cháu là Nguyễn Trãi và các chúa Nguyễn, vua nhà Nguyễn sau này.[6][7]. Theo gia phả họ Nguyễn Đại Tông, con cháu của Nguyễn Bặc, con Nguyễn Bặc là Nguyễn Đê di cư vào làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa và là tổ tiên của các chúa Nguyễn.

    Tuy nhiên, những thông tin trên chưa được giới chuyên gia trong ngành sử học xác nhận.

   Đền thờ họ Nguyễn Đại Tông Khởi Nguyên Đường ở Gia Phương (Gia ViễnNinh Bình) có đôi câu đối dánh dầu việc thiên cư của dòng tộc, nói lên sự nối tiếp vẻ vang của dòng họ Nguyễn và đề cao ngài Nguyễn Bặc:

"Duệ xuất Gia Miêu vương tích hiển

Khánh lưu Đại Hữu tướng môn quang"

Tạm dịch:

Cửa tướng phúc dày làng Đại Hữu

Dòng Vương nối ở đất Gia Miêu.

Nhận định

Trong Đại Việt Sử ký Toàn thưNgô Sĩ Liên nhận định về ông như sau:

Chu Công là người vương thất rất thân, giúp vua nhỏ tuổi còn không tránh khỏi những lời gièm pha phao truyền. Lê Hoàn là đại thần khác họ, nắm giữ binh quyền, làm công việc như Chu Công, thường tình còn ngờ vực, huống là Nguyễn Bặc ở chức thủ tướng và Đinh Điền là đại thần cùng họ hay sao? Bọn họ khởi binh không phải làm loạn, mà là một lòng phù tá nhà Đinh, vì giết Hoàn không được mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ. Nay xem lời Đại Hành kể tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội mình. Khi Bặc chết, ắt phải có nói một lời để bày tỏ chính nghĩa, nhưng không thấy sử chép, thế là bỏ sót.

Đền thờ

    Tỉnh Hà Nam Ninh cũ có tới 134 nơi thờ và phối thờ Nguyễn Bặc. Nơi thờ và phối thờ Đinh Điền càng nhiều. Đền vua Đinh ở cố đô Hoa Lư; ở xã Gia Phương; ở Ba Dân (Kim Bảng); đền vua Đinh ở Ý Yên; đền Tứ Trụ ở Tràng An… nơi nào cũng thờ Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Các lễ hội như cờ lau tập trận, hội đền vua Đinh… đều diễn hình ảnh vua Đinh, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, xem như những người hùng tiêu biểu cho tinh thần thượng võ dân tộc. Nhiều nơi thờ các vị thần khác mà vẫn lưu lại sự tích, có khi thờ cả Đinh Điền, Nguyễn Bặc gắn bó với nhau, được dân địa phương sùng kính (như các đền miếu ở huyện Yên Khánh, Ninh Bình, chùa Long Hoa ở xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, đền chùa ở bến Vạc Ninh Bình, đình Động Phi ở huyện Ứng Hòa Hà Nội…). Chứng tỏ, hai vị sống thân thiết, chết lại không xa rời, trở thành hình ảnh tâm linh hòa hợp giữa lòng ngưỡng mộ của nhân dân.[8]

    Lăng Nguyễn Bặc táng ở thôn Vĩnh Ninh, làng Đại Hữu (Gia ViễnNinh Bình). Lăng được trùng tu lần mới nhất vào năm Kỷ Tỵ (1989).

Về đền thờ, ông được thờ ở nhiều nơi:

·         Chính thức là ngôi từ đường Nguyễn Tộc tại thôn Vĩnh Ninh (Gia ViễnNinh Bình).

·         Tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng ở xã Trường Yên (Hoa LưNinh Bình) dựng từ thế kỷ XI. Đến có 3 tòa: tòa ngoài là bái đường, tòa giữa gọi là Thiên Hương thờ tứ trụ triều đình của nhà Đinh: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh TúLưu Cơ. Toà trong cùng là chính cung thờ Đinh Tiên HoàngĐinh LiễnĐinh Toàn và Đinh Hạng Lang.

·         Tại thôn Vân Hà làng Đại Hữu (Gia ViễnNinh Bình) có ngôi đền thờ 3 vị anh hùng đào viên kết nghĩa là Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc và Đinh Điền.

·         Đình Áng Ngũ, xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư nằm sát kinh đô Hoa Lư thờ Nguyễn Bặc với thần tích cho biết ông từng trấn giữ ở đây.[9] Đền Nột Lấm xã Ninh Xuân cũng thờ "Đinh triều tả giám sát hay "Hành Khiển Quang Lộc đại vương" là Nguyễn Bặc

·         Đền Hiềm ở phường Phúc Thành, Ninh Bình là nơi thờ ông với thần tích ghi lại những hiềm khích với Lê Hoàn.

·         Di tích chùa Đẩu Long, phường Tân Thành, thành phố Ninh BìnhNinh Bình cùng 6 vị thần khác.

·         Tại miếu Đông Thương xã Khánh An huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, ông được phối thờ cùng Đinh Điền.

·         Tại làng Cổ Điển thuộc xã Tứ Hiệphuyện Thanh TrìHà Nội, có đình Ba Dân là đình chung của 3 làng: Cương Ngô, Cổ Diễn, Đồng Trì thờ chung các ông Nguyễn Bặc, Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục.

·         Tại làng Văn Điển thuộc xã Tứ Hiệphuyện Thanh TrìHà Nội

·         Tại huyện Hoa Lư (Ninh Bình) có bốn thôn đều có đình thờ ông làm thành hoàng, trong đó thô Ngô Hạ thờ tượng. Năm Canh thân (1980) chi họ Nguyễn Đình tước tượng ngài về thờ ở từ đường của chi họ (cùng thôn).

·         Đền thờ Định Quốc Công Nguyễn Bặc tại làng Phú Cốc, xã Thanh Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

·         Tại kinh thành Phú Xuân (Huế) vua Minh Mạng cho xây miếu Lịch Đại Đế Vương để thờ các vị vua và các danh tướng qua các triều đại trong đó có Nguyễn Bặc.

·         Năm Đinh Dậu (1917) ông được vua Khải Định sắc phong là Hộ Quốc Tướng Công Trác Võ Thượng Đẳng Phúc Thần.

·         Hiện tại trung tâm thành phố Ninh Bình đang xây dựng khu Quảng trường - tượng đài Đinh Tiên Hoàng đế với 4 góc có tượng 4 vị quan đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ cao 5m, có lính canh và ngựa bằng đá[10].

Tên đường

    Tên tuổi của Nguyễn Bặc được đặt cho các đường phố ở nhiều đô thị như: thành phố Kon Tumthị xã Tam Điệpthành phố Hồ Chí MinhNha Trangthành phố Ninh Bình,...

    Hiện nay ở Việt Nam, Ban liên lạc Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc đã được thành lập. Chủ tịch danh dự của Hội đồng dòng tộc Nguyễn Bặc toàn quốc là ông Nguyễn Huy Hiệu, thượng tướng, Viện sĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    Khảo cứu tư liệu lịch sử và gia phả dòng họ Nguyễn ở huyện Hoằng Hóa ( Thanh Hóa), trong đó có tư liệu gia phả do Nguyễn Lữ soạn vào đầu thế kỷ XVI, các nhà nghiên cứu khẳng định: Hoằng Hóa là quê hương thứ hai của Định Quốc Công Nguyễn Bặc. Do bởi, khi Đinh Tiên hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại, Thái hậu Dương Vân Nga giao cho Lê Hoàn nắm quyền chỉ huy quân đội, chuyên quyền, tự do ra vào cấm cung, Định Quốc công Nguyễn Bặc đã ra đi Châu Ái ( Thanh Hóa) tuyển mộ quân chống lại và đưa gia đình về đây lánh nạn…

Một số tư liệu khác cũng ghi ằng, hai con trai của Nguyễn Bặc lánh nạn ở Bắc Giang, và từ đó cùng với quốc sự Vạn Hạnh mưu kế tôn phò Lý Công Uẩn lên làm vua. Tiếp đó, trong thời Lý – Trần, nhiều lần sau các vụ như Đỗ Anh Vũ bắt Nguyễn Dương ( đời thứ 7) nhảy xuống giếng tự vẫn và bắt Nguyễn Quốc ( đời thứ 7) uống thuốc độc, sự xung dối của Nguyễn Nộn ( đồi thứ 8) với Trần Thủ Độ, quân Nguyên – Mông ba lần sang xâm lược, Hồ Quý Ly ( làm vua từ năm 1400 đến năm 1401) giết 389 trung thần của nhà Trần, Giản Định Đế ( 1407 – 1409) và Trung Quan Đế (1409 – 1413) chống giặc minh, hậu duệ Nguyễn Bặc phải bỏ chạy lánh nạn chu di. Đến Nguyễn Biện, hậu duệ đời thứ 16 của Nguyễn Bặc, sau khi bố tên là Nguyện Minh Du bị giết, đã chạy sang sách Gia Hưng, và được an tang ở đó, tại núi Thiên Tôn.

Từ thế kỷ XI đến thế kỉ XIV, 13 đời dòng họ Nguyễn tiếp tục phò nhà Hậu Lý, rồi nhà Trần, rồi chống Hồ Quý Ly và phò nhà hậu Trần vào đầu thế kỷ XV.

Đến đời thứ 18, các cháu của Nguyễn Biện bắt đầu tham gia khởi nghĩa Lam Sơn rất sớm – ngay từ hồi hội thế :ũng Nhai năm 141. Đó là Nguyễn Lý ( con của Nguyễn Tác, chi trưởng), sang cư trú ở thôn Đào Xá ( Lam Sơn). Sauk hi mất, Nguyễn Lý được thờ cùng đền với Nguyễn Bặc ở xã Ngô Khê Hạ ( huyện Gia Viễn, Ninh Bình), nơi Lê Hoàn hành hình Thái Thủy tổ họ Nguyễn. Thứ nữa là Nguyễn Dã ( con thứ 3 của Nguyễn Chư). Sau vụ Trần Nguyên Hãn bị oan phải nhảy xuống sông tự vẫn và Nguyễn Trãi bị hạ gục và năm 1429, Nguyễn Dã sợ bị lien lụy, cùng với hai con trai và đám người thân thuộc chạy sang Văn Nam, đổi thành họ Ngạc. Tiếp nữa là Nguyễn Công uẩn. Đến tuổi gia, Nguyễn Công uẩn được coi việc quân dân ở huyện nhà, và xin đổi huyện Tống Giang thành huyện Tống Sơn, thôn Gia Hưng thành Gia Miêu Ngoại trang. Nguyễn Lý, Nguyễn Dã và Nguyễn Công Duẩn được phong Bình Ngô khai quốc công thần, ban quốc tính. Nguyễn Đức Trung ( đời thứ 19) là con trai cả của Nguyễn Công Duẩn, vào năm 1460 cùng với 2 em ruột là Nguyễn Nhân Chính, Nguyễn Nhân Hiếu tham gia hạ bệ Nghi Dân, tôn phò vùa Lê Thánh Tông, và được phong Tán trị công thần. Nguyễn Thị Ngọc Hằng ( đời thứ 20) con gái thứ 2 của Nguyễn Dức Trung, được tuyển làm sung nghi của vua Lê Thánh Tông, sinh ra vua Lê Hiến Tông, năm 1970 được lập làm quý phi, nam 1947 – Hoàng Thái hậu và năm 1504 – Thái Hoàng Thái hậu. Trường lạc Cung vừa mới được khai quận ở khu di tích Hoàng thành Thang Long tại 18 Hoàng Diệu, Hà Nội, chinh là nơi ở của bà từ năm 1497…

Vào năm 1558, một bộ phận hậu duệ không nhỏ của các dòng – chi họ Nguyễn đi vào Đàng Trong phò chúa Nguyễn Hoàng. Các chi ở lại ngoài Bắc và tiếp tục phục vụ chính quyền Lê – Trịnh bắt buộc phải giấu gốc tích thực sự của mình, như dòng họ Nguyễn Cảnh ở xã Nông Sơn ( huyện Nam Đường, Nghệ An)….

Nguyễn Cảnh sinh các con trai là Nguyễn Thành, Nguyễn Thực, Nguyễn Thạc…. Trong đó có Nguyễn Thạc là sinh nhiều con trai nhất: Nguyễn Long, Nguyễn Tỉnh, Nguyễn Yên, Nguyễn Lai, Nguyễn Lam, Nguyễn Hàm, Nguyễn Huyên.

Cụ Nguyễn Lam sinh ra mấy đời, con cháu lập nghiệp khắp nơi….

Từ đó có một chi nhánh là cụ Nguyễn Văn Giàu ( tên lót họ Văn là do biến tố của tập tục và phong cách vùng miền). Cụ là cụ tổ họ Nguyễn của vùng đất Thanh Ly, Thăng Bình Quảng Nam ngày nay.

Tóm tắt sơ lược lịch sử họ Nguyễn trong đó có dòng tộc Nguyễn Thanh Ly Thăng Bình Quảng Nam nhưng nhìn chung theo nghiên cứu của những nhà sử học, khảo cổ học của việt nam nói riêng và Châu Á nói chung, thống kê khoa học kết luận rằng, các tộc cùng một họ thường là có 1 nguồn gốc được tính từ các thành phố trị trấn hay thị xã với bán kính 28,5 km. nghĩa là từ các thành phố thị xã có từ lâu đời, bán kính 28,5 km thì các tộc mang chung 1 họ đều có cùng 1 gia phả

Họ giải thích rằng, Ngày xưa, với điều kiện kinh tế giao thông đi lại rất khó khăn, anh em dòng họ chỉ ở gần nhau 5, 7 km đã khó có thể gặp nhau. Từ đó, việc thờ phụng duy trì tổ tông mang tính đơn độc và tự quyết nên các tên lót có thể khác nhau.

Xét cho cùng, là con cháu, chúng ta phải biết nguồn cội một cách tổng quát theo bộ tham khảo tra cứu qua nhiều tư liệu tổng quát này

                                                                                    Sưu tập và nghiên cứu bách khoa toàn thư

                                                                                                    Và những tư liệu khác

                                                                                                      NGUYỄN LINH